Hải Phòng hôm nay, càng thêm giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, văn hiến và khoa bảng, gắn với những dấu ấn lớn của lịch sử: Khúc Thừa Dụ thời tự chủ; truyền thống khoa bảng Văn miếu Mao Điền, Côn Sơn – Kiếp Bạc được Unesco ghi danh, chiến thắng Bạch Đằng oanh liệt, vv… Trong kỷ nguyên mới, Hải Phòng tiếp tục khẳng định vai trò là trung tâm công nghiệp và cảng biển quan trọng của cả nước, thể hiện rõ khát vọng phát triển mạnh mẽ và tinh thần tiên phong của một thành phố cảng anh hùng.
1. Đánh giá, ghi nhận về tình hình kinh tế – xã hội 2025 của Hải Phòng
Qua báo cáo của thành phố, tôi rất vui mừng nhận thấy những năm qua, đặc biệt là năm 2025, Hải Phòng đã đạt được nhiều kết quả rất đáng biểu dương, GRDP tăng 11,81%, đứng thứ hai cả nước và cao nhất trong các thành phố trực thuộc Trung ương, đồng thời là năm thứ 11 liên tiếp thành phố duy trì mức tăng trưởng hai con số. Quy mô nền kinh tế đứng thứ 3 cả nước (gần 30 tỷ USD).
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong đó công nghiệp – xây dựng và dịch vụ chiếm gần 90% GRDP, sản xuất công nghiệp tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu với mức tăng khoảng 15%, đặc biệt trong lĩnh vực chế biến, chế tạo. Hoạt động cảng biển và logistics phát triển mạnh, thu hút đầu tư cao. Hải Phòng là cửa ngõ giao thương quốc tế quan trọng và hấp dẫn các nhà đầu tư quốc tế.
Trong lĩnh vực xã hội, nhiều chỉ tiêu đạt kết quả tích cực, nhất là giải quyết việc làm; du lịch phát triển mạnh. Hải Phòng đã đạt nhiều thành tích nổi bật trong cải cách hành chính và quản trị công, khi đồng thời đứng đầu cả nước ở các chỉ số PCI, PAR Index, SIPAS và PGI (chỉ số xanh cấp tỉnh).
Những kết quả đó thể hiện sự nỗ lực rất lớn của Đảng bộ, chính quyền, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân thành phố. Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tôi ghi nhận và biểu dương những thành tựu đó của đảng bộ, chính quyền và nhân dân TP. Hải Phòng.

2. Về việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV, các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị và kế hoạch tăng trưởng 2 con số
Hải phòng đã sớm quán triệt và cụ thể hóa các định hướng lớn của Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, Chương trình hành động thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số giai đoạn 2026- 2030, với mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp khá rõ ràng thể hiện truyền thống năng động, sáng tạo và tinh thần tiên phong của Hải phòng. Những nội dung định hướng Nghị quyết của Trung ương, của Bộ Chính trị được cụ thể hóa thành những chương trình, đề án và các nhiệm vụ chủ yếu, nhiệm vụ trọng tâm, với những mục tiêu, kết quả cụ thể có thể đo lường lược, kiểm đếm được, gắn với trách nhiệm rõ ràng, cụ thể. Cách làm này rất đáng ghi nhận và hiểu dương, nhân rộng.
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng được nhân dân rất ủng hộ và đánh giá cao ở tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm và nhân dân cũng kỳ vọng rất lớn. Thành bại của Nghị quyết chính là khâu tổ chức thực hiện. Nghị quyết của Đại hội, các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị và mục tiêu tăng trưởng hai con số cần được cụ thể hóa thành chương trình hành động bài bản, đồng bộ, có trọng tâm và đo đếm được bằng kết quả cụ thể. Chương trình hành động của Hải Phòng cần được cụ thể hóa hơn nữa, kể cả những mốc thời hạn, bảo đảm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, gắn với cơ chế kiểm tra, giám sát và đánh giá định kỳ để kịp thời điều chỉnh khi cần thiết. Có rất nhiều chỉ tiêu phải nhiều ngành cùng phối hợp chặt chẽ để triển khai, (chẳng hạn: Năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) vào GRDP; năng suất lao động xã hội, hay số doanh nghiệp thành lập mới,…. Để có kết quả tăng trưởng cao thì phải tạo được không khí hứng khởi đầu tư, làm ăn kinh doanh trong toàn xã hội, tạo ra niềm tin xã hội, niềm tin thị trường, phải có sự phối hợp từ rất nhiều ngành từ công an, thuế, thanh tra, quản lý thị trường,… muốn hộ kinh doanh chuyển mạnh thành doanh nghiệp thì phải tạo động lực cho họ làm việc này, nhà nươc phải hỗ trợ họ, họ phải thấy được thuận lợi và tốt hơn). Trong Ban thường vụ cũng cần phân công rất cụ thể chỉ đạo, theo dõi, phối hợp, đó cũng là cơ sở để đánh giá kết quả công tác.
Hải Phòng cần xác định rõ vai trò của mình trong cấu trúc phát triển quốc gia và vùng Bắc Bộ: vừa là một địa phương năng động, vừa phải vươn lên trở thành cực tăng trưởng dẫn dắt ở phía Bắc, trung tâm công nghiệp công nghệ cao, logistics tầm cỡ quốc tế và kinh tế biển hiện đại, đồng thời là đầu mối kết nối thị trường nội địa với thị trường quốc tế. Tăng trưởng của Hải phòng cần duy trì tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, gắn với hiện đại hóa, xanh hóa, số hóa và nâng cao chất lượng sống của Nhân dân; mở rộng cộng đồng doanh nghiệp năng động và tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu cả nước về môi trường đầu tư, cải cách hành chính và chuyển đổi số. Những định hướng đó đòi hỏi thành phố phải tìm cách nâng cấp mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, KHCN và đổi mới sáng tạo. Cụ thể:
Thứ nhất, tạo đột phá trong phát triển công nghiệp hiện đại, trọng tâm là công nghiệp công nghệ cao, chế biến chế tạo và công nghiệp hỗ trợ có giá trị gia tăng cao. Hải phòng hình thành hệ sinh thái công nghiệp tiên tiến, thông qua lựa chọn chất lượng nhà đầu tư, công nghệ và chuỗi cung ứng chiến lược. Quá trình tái cơ cấu công nghiệp phải gắn với hiện đại hóa, số hóa và xanh hóa; phục hồi có chọn lọc các ngành thế mạnh như cơ khí, đóng tàu, vận tải và dịch vụ cảng biển trên nền tảng công nghệ cao và tiêu chuẩn môi trường mới.
Thứ hai, hình thành hệ thống cảng biển, logistics và kinh tế biển hiện đại tầm quốc gia và quốc tế. Cần phát triển trung tâm logistics quốc tế gắn với hệ thống cảng biển hiện đại, vận tải đa phương thức, thương mại điện tử, cảng xanh và cảng thông minh. Cùng với triển khai Khu thương mại tự do thế hệ mới, cần thúc đẩy đồng bộ các công trình hạ tầng chiến lược như cảng Lạch Huyện, Nam Đồ Sơn, khu vực sông Văn Úc, nâng cấp Cát Bi và hệ thống kết nối đa phương thức. Mục tiêu đưa Hải Phòng trở thành trung tâm điều phối các dòng chảy thương mại, logistics và dịch vụ giá trị cao của miền Bắc.
Thứ ba, coi KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính của mô hình tăng trưởng mới. Đây không chỉ là nhiệm vụ của ngành KHCN mà phải trở thành cách tổ chức lại toàn bộ nền kinh tế và hệ thống quản trị đô thị. Cần triển khai hiệu quả Nghị quyết 57 một cách khẩn trương và hiệu quả, tận dụng cơ chế đặc thù để phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, xây dựng các trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp, từng bước hình thành Công viên KHCN và hoàn thiện Trung tâm điều hành thông minh. Qua đó thúc đẩy cảng biển số, logistics số và các dịch vụ số, không chỉ nâng tỷ trọng kinh tế số mà còn tạo năng lực quản trị hiện đại và sức hấp dẫn mới đối với nhà đầu tư và doanh nghiệp sáng tạo.
Thứ tư, phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng nhất của tăng trưởng. Cần xây dựng môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch, ổn định, chi phí thấp và thủ tục nhanh; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp; đồng thời cung cấp các nền tảng số, dịch vụ tư vấn pháp lý, kế toán, quản trị và đào tạo nhân lực. Cùng với đó là khuyến khích khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và phát triển các doanh nghiệp công nghệ, logistics, công nghiệp hỗ trợ và dịch vụ biển, từng bước hình thành một cộng đồng doanh nghiệp Hải Phòng có năng lực cạnh tranh khu vực và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Thứ năm, triển khai quyết liệt các cơ chế, chính sách đặc thù để huy động và phân bổ hiệu quả mọi nguồn lực phát triển; tạo cơ chế mới thu hút nguồn lực. Thành phố cần cơ cấu lại thu – chi ngân sách theo hướng tăng kỷ luật tài chính, ưu tiên chi đầu tư phát triển và giảm dần chi thường xuyên; đồng thời khai thác hiệu quả tài sản công, xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, chống lãng phí, thất thoát và hoàn thiện cơ chế khai thác hạ tầng trong Khu thương mại tự do.
Thứ sáu, đổi mới mạnh mẽ quản trị đô thị theo hướng chính quyền số, kiến tạo và phục vụ. Vận hành đồng bộ hiệu quả chính quyền địa phương hai cấp, bảo đảm trơn tru, đồng bộ, rõ thẩm quyền, trách nhiệm, phải phục vụ người dân, doanh nghiệp nhanh hơn, hiệu quả hơn; đặc biệt chú ý đến năng lực cấp xã. Thực hiện số hóa dữ liệu về quy hoạch, đất đai, đầu tư, xây dựng và công khai trên nền tảng số. Mục tiêu không chỉ giữ vững vị trí dẫn đầu về cải cách hành chính mà hướng tới một mô hình quản trị đô thị hiện đại, minh bạch và dựa trên dữ liệu.
Thứ bảy, chương trình hành động phải đặt trong tư duy phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ giữa kinh tế với văn hóa, xã hội, con người và môi trường. Cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển nhà ở xã hội, cải thiện môi trường đô thị và nâng cao mức độ thụ hưởng của người dân. Sự phát triển của thành phố không chỉ được đo bằng tăng trưởng GRDP mà trước hết bằng chất lượng sống và sự phát triển toàn diện của con người. Đầu tư cho con người, an sinh xã hội, văn hóa và môi trường chính là nền tảng của phát triển bền vững lâu dài.

3. Về tư duy quy hoạch, kết nối vùng và mục tiêu phát triển Hải Phòng đến 2030 – tầm nhìn 2045 – viễn cảnh xa hơn.
Cùng với việc xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV, Hải Phòng cần đặc biệt coi trọng tư duy quy hoạch phát triển. Quy hoạch không chỉ là sắp xếp không gian hay phân bổ đất đai, mà trước hết là tầm nhìn chiến lược về vị thế của thành phố trong cấu trúc phát triển quốc gia và khu vực. Nếu chương trình hành động là động lực vận hành thì quy hoạch chính là bản đồ định hướng cho con đường phát triển dài hạn.
Trong cấu trúc phát triển của miền Bắc, Hải Phòng phải được định vị là cực tăng trưởng biển của vùng đồng bằng sông Hồng và của cả nước, cùng với Hà Nội và Quảng Ninh hình thành tam giác động lực phát triển. Hải Phòng cần phát huy lợi thế để trở thành trung tâm công nghiệp hiện đại, logistics quốc tế và kinh tế biển tổng hợp của Việt Nam.
Trong bối cảnh cạnh tranh khu vực ngày càng gay gắt, Hải Phòng cần đặt mình trong tương quan với các thành phố cảng lớn của châu Á và thế giới để định hình tầm nhìn phát triển một đô thị cảng hiện đại, trung tâm logistics và kinh tế biển có sức cạnh tranh quốc tế. Vì vậy, quy hoạch phát triển phải được xây dựng với tầm nhìn dài hạn, không chỉ đến năm 2030 hay 2045 mà xa hơn nữa, chủ động chuẩn bị không gian phát triển, hạ tầng chiến lược và năng lực quản trị để thích ứng với những biến động lớn của kinh tế toàn cầu, thương mại biển, công nghệ và biến đổi khí hậu.
Trước hết, với tầm nhìn đến năm 2030, Hải Phòng cần định hình cấu trúc không gian kinh tế biển hiện đại, trong đó cảng biển và logistics giữ vai trò trung tâm. Hệ thống cảng Lạch Huyện, Nam Đồ Sơn, khu vực sông Văn Úc cùng mạng lưới logistics, khu công nghiệp và khu thương mại tự do phải được quy hoạch đồng bộ, tạo chuỗi giá trị từ sản xuất, vận tải, thương mại, dịch vụ. Mục tiêu là đưa Hải Phòng trở thành trung tâm điều phối logistics và chuỗi cung ứng của miền Bắc và khu vực.
Cùng với đó, thành phố cần mở rộng và hiện đại hóa kết nối vùng, trở thành trung tâm giao thông đa phương thức của miền Bắc. Việc hoàn thiện các tuyến vành đai, hành lang kinh tế ven biển, đường sắt kết nối cảng với nội địa, phát triển vận tải sông pha biển, nâng cấp Cảng hàng không quốc tế Cát Bi sẽ mở ra không gian phát triển rộng lớn cho toàn vùng duyên hải Bắc Bộ và tăng cường kết nối với các tuyến thương mại quốc tế. Cần tính đến phương án kết nối với sân bay Gia Bình tại Bắc Ninh.
Với tầm nhìn đến năm 2045, Hải Phòng cần trở thành thành phố cảng công nghiệp – dịch vụ hiện đại tầm cỡ châu Á, trung tâm kinh tế biển, logistics, năng lượng sạch và KHCN biển của cả nước. Không gian đô thị cần được tổ chức theo mô hình đa trung tâm, mở rộng ra biển, phát triển các đô thị cảng hiện đại, đô thị sinh thái ven biển và đô thị thông minh gắn với các trung tâm đổi mới sáng tạo; đồng thời hình thành các khu công nghiệp sinh thái, khu công nghệ cao và các trung tâm nghiên cứu công nghệ biển, vật liệu và năng lượng mới. Hải Phòng phải trở thành một đô thị biển xanh, thông minh, đáng sống, hội tụ tri thức, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Xa hơn, với tầm nhìn đến năm 2100, quy hoạch thành phố cần hướng tới xây dựng một siêu đô thị biển có sức cạnh tranh toàn cầu, trung tâm giao thương, logistics và kinh tế biển của Đông Á. Điều đó đòi hỏi ngay từ hôm nay Hải Phòng phải chuẩn bị tầm nhìn dài hạn về mở rộng không gian ra biển, bảo vệ hệ sinh thái ven biển, phát triển hạ tầng thích ứng với biến đổi khí hậu và xây dựng mô hình đô thị biển bền vững trong kỷ nguyên công nghệ mới.
Một nội dung quan trọng trong tư duy quy hoạch của Hải Phòng là tăng cường kết nối vùng và lan tỏa phát triển. Hải Phòng cần chủ động thúc đẩy các cơ chế liên kết vùng về hạ tầng, logistics, du lịch, đào tạo nguồn nhân lực và bảo vệ môi trường biển, qua đó tạo ra một không gian kinh tế rộng lớn, nâng cao sức cạnh tranh của cả vùng.
4. Phát triển vì con người và nâng cao đời sống Nhân dân
Phát triển kinh tế suy cho cùng phải hướng tới nâng cao đời sống Nhân dân. Hải Phòng cần kiên định quan điểm lấy con người làm trung tâm của phát triển, bảo đảm mọi người dân đều được thụ hưởng thành quả tăng trưởng và không ai bị bỏ lại phía sau. Có 6 điểm cần tập trung thực hiện: (i) cần đặc biệt quan tâm đến lực lượng lao động, nhất là công nhân trong các khu công nghiệp, công nhân cảng biển, người lao động nhập cư và các nhóm yếu thế trong xã hội. Phát triển công nghiệp phải gắn với phát triển đồng bộ hạ tầng xã hội cho người lao động. Cần đẩy mạnh chương trình phát triển nhà ở xã hội, khu lưu trú công nhân, đồng thời xây dựng các thiết chế văn hóa, giáo dục, y tế, nhà trẻ và dịch vụ công cộng ngay trong hoặc gần các khu công nghiệp để người lao động có điều kiện sinh sống ổn định, an toàn và nhân văn. Đây không chỉ là chính sách an sinh mà còn là nền tảng để xây dựng một lực lượng lao động bền vững và gắn bó lâu dài với sự phát triển của thành phố. (ii) cần tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực, tạo cơ hội học tập suốt đời cho người dân. Giáo dục không chỉ nhằm cung cấp lao động cho nền kinh tế mà còn phải nuôi dưỡng trí tuệ, khát vọng và bản lĩnh của con người Hải Phòng trong thời đại mới. Cần phát triển mạnh hệ thống đào tạo nghề hiện đại gắn với nhu cầu của các ngành công nghiệp, logistics, kinh tế biển và công nghệ cao, qua đó nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ lên mức cao hơn trong những năm tới. (iii) Cùng với giáo dục, hệ thống y tế cần được phát triển theo hướng hiện đại, công bằng và lấy người dân làm trung tâm. Hải Phòng cần đầu tư nâng cao năng lực hệ thống y tế từ tuyến cơ sở đến tuyến chuyên sâu, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong khám chữa bệnh, phòng chống dịch bệnh và chăm sóc sức khỏe cộng đồng, đồng thời từng bước xây dựng thành phố trở thành trung tâm y tế của vùng duyên hải Bắc Bộ. (iv) Một trụ cột quan trọng khác là xây dựng hệ thống an sinh xã hội toàn diện và bao trùm. Thành phố cần triển khai hiệu quả các chương trình giảm nghèo bền vững, tạo sinh kế và cơ hội việc làm cho người dân; hỗ trợ các nhóm dễ bị tổn thương; mở rộng mạng lưới bảo trợ xã hội; đồng thời phát triển thị trường lao động hiện đại, minh bạch và linh hoạt. Những chính sách này không chỉ giúp bảo đảm ổn định xã hội mà còn tạo nền tảng cho sự phát triển hài hòa và bền vững của đô thị. (v) Song song với đó, cần đặc biệt coi trọng việc xây dựng môi trường sống xanh, an toàn và bền vững. Phải tăng cường quản lý tài nguyên, kiểm soát ô nhiễm môi trường, đẩy mạnh phân loại và xử lý chất thải, phát triển đô thị xanh và thích ứng với biến đổi khí hậu, qua đó bảo vệ sức khỏe và tương lai lâu dài của người dân. (vi) Một thành phố phát triển không chỉ được đo bằng quy mô kinh tế hay số lượng nhà máy và tòa nhà cao tầng mà quan trọng hơn là chất lượng cuộc sống, sự an toàn, công bằng và cơ hội phát triển của mỗi người dân. Hải Phòng cần hướng tới trở thành một thành phố đáng sống, nơi mọi người dân đều có cơ hội học tập, làm việc, sáng tạo và vươn lên; nơi tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ xã hội, văn hóa, môi trường và hạnh phúc của con người.

Tổng Bí thư Tô Lâm chụp ảnh lưu niệm với Ban chấp hành Đảng bộ thành phố Hải Phòng

